CÁC DÂN TỘC ANH EM Ở VIỆT NAM

Việt Nam là một đất nước đa dân tộc với hơn 54 dân tộc khác nhau, mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng riêng biệt về phong tục, tập quán và văn hóa. Trong số đó, có 5 dân tộc có dân số lớn nhất Việt Nam, bao gồm Kinh, Tày, Thái, Mường và H'mông. Chính sự đa dạng về dân tộc đã tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc màu và đặc trưng cho đất nước này. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về 5 dân tộc có dân số lớn nhất Việt Nam và vai trò của họ trong lịch sử và xã hội hiện nay.


 

 

Phân bố các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam

Theo thống kê của Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình, tính đến tháng 4 năm 2019, dân số Việt Nam là khoảng 96 triệu người, trong đó có hơn 53 triệu người thuộc dân tộc Kinh, chiếm gần 87% tổng số dân. Các dân tộc thiểu số còn lại chiếm khoảng 13%, với các dân tộc có dân số lớn nhất là Tày (1,9 triệu người), Thái (1,8 triệu người), Mường (1,3 triệu người) và Hmong (1,1 triệu người). Dưới đây là bảng thống kê phân bố các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam:


Phong tục, tập quán và văn hóa của các dân tộc

Mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng riêng biệt về phong tục, tập quán và văn hóa. Điều này đã tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng và phong phú cho đất nước Việt Nam. Dưới đây là một số điểm đặc trưng của 5 dân tộc có dân số lớn nhất Việt Nam:


Dân tộc Kinh


Chiếm tỉ lệ dân số lớn nhất Việt Nam, người kinh sinh sống vô cùng phổ biến trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Vô cùng quen thuộc với những phong tục, tập quán như: Tục ăn trầu, Tết Nguyên Đán, Cúng giao thừa, Tết Thanh minh, Tết trung thu,… Đây cũng chính là nền văn hoá rõ nét nhất tại Việt Nam. Hòa cùng những phong tục tập quán của những dân tộc khác tạo nên một bức tranh văn hoá vô cùng sống động.

Về trang phục: Đối với nam giới, trang phục thường bao gồm áo giao lĩnh (áo dài) và quần âu, thường được làm từ những chất liệu như lụa, vải bông hoặc vải lanh. Còn đối với phụ nữ, trang phục bao gồm áo dài và váy liền, thường được kết hợp với nhiều chi tiết thêu thùa tinh xảo và họa tiết truyền thống.

 

 

Dân tộc Tày


Dân tộc Tày là một trong những dân tộc có dân số lớn thứ 2 Việt Nam, chủ yếu sinh sống ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hà Giang và Quảng Ninh. Với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, người Tày có phong tục tập quán gắn liền với đời sống nông thôn. Họ có truyền thống làm ruộng, chăn nuôi và sản xuất nông sản như lúa, ngô, sắn, khoai, cây ăn quả và gia cầm.

Về trang phục: người Tày thường mặc quần áo vải bông nhuộm chàm nên trang phục của họ màu chủ đạo là màu chàm, phụ nữ thường chít khăn mỏ quạ, mặc áo năm thân có thắt lưng, đeo vòng cổ, tay, chân bằng bạc.


Về văn hóa, người Tày có những nét đặc trưng như: Lễ ăn hỏi, Lễ cưới, Độc đáo cây hoa báo hiếu của người Tày, Tết Đắp Nọi, Tết Thanh Minh,.. Ngoài ra, người Tày còn có những nghề thủ công truyền thống như dệt lụa, gốm sứ, khắc gỗ và làm đồ thủ công mỹ nghệ.

 


Dân tộc Thái


Dân tộc Thái chủ yếu sinh sống ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình và Yên Bái. Người Thái có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng cọn, bắc máng lấy nước làm ruộng. Lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp. Người thái cũng làm nương để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác. Từng gia đình chăm nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải, một số nơi làm đồ gốm....
Về trang phục: Một bộ trang phục truyền thống của người dân tộc Thái bao gồm: áo ngắn (xửa cỏm), áo dài (xửa chái và xửa luổng), váy (xỉn), thắt lưng (xải cỏm), khăn (piêu), nón (cúp), xà cạp (pepăn khạ), các loại hoa tai, vòng cổ, vòng tay và xà tích.

Ngày 15/12, Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 của UNESCO về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể đã chính thức ghi danh Nghệ thuật Xòe Thái của Việt Nam vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Múa "Xòe” có nghĩa là múa với các động tác tượng trưng cho các hoạt động của con người trong nghi lễ, sinh hoạt văn hóa, cuộc sống, lao động. Xòe được trình diễn trong nghi lễ, trong đám cưới, lễ hội, các sự kiện văn hóa của cộng đồng.



Dân tộc Mường


Dân tộc Mường chủ yếu sinh sống ở các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Nội, Sơn La và Phú Thọ. Hoạt động kinh tế chủ yếu của người Mường là nông nghiệp ruộng nước. Người Mường kết hợp nông nghiệp lúa nước với nương rẫy, chăn nuôi, săn bắn, hái lượm và tiểu thủ công nghiệp mang nặng tính tự cung, tự cấp.
Về trang phục: Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo. Khăn đội đầu là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh (phổ biến là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy. Cạp váy nổi tiếng bởi các hoa văn được dệt kỳ công. Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4 dây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịt bạc.

Đồng bào Mường có một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú với nhiều thể loại như: thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ. Người Mường còn có hát ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻ con chơi… Cồng là nhạc cụ đặc sắc của đồng bào Mường, ngoài ra còn nhị, sáo trống, khèn lù.

 


Dân tộc H'mông


Người H'mông ở Việt Nam cư trú chủ yếu trên vùng núi cao của các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Tuyên Quang, Thanh Hoá, Nghệ An...và Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắk Nông…) Nguồn sống chính của đồng bào Mông là làm nương rẫy du canh, trồng ngô, trồng lúa, ở một vài nơi có ruộng bậc thang. Cây lương thực chính là ngô và lúa nương, lúa mạch. Ngoài ra đồng bào còn trồng lanh để lấy sợi dệt vải và trồng cây dược liệu. Chăn nuôi của gia đình người Mông có trâu, bò, ngựa, chó, gà.
Về trang phục: Trang phục truyền thống: Trang phục của người H'mông rất sặc sỡ, đa dạng.

 

Phụ nữ H'mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành. Phụ nữ H'mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ H'mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Hmông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Hmông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài. Trang trí chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Nam giới: Quần áo màu đen, áo cánh ngắn, quần dài, dùng khăn quấn đầu.


Theo phong tục của đồng bào dân tộc Mông chiếc Khèn là vật dụng vô cùng quan trọng dùng để thờ cúng khi trong gia đình dòng họ có người qua đời. Ngày nay, điệu "nhảy Khèn" còn được dùng biểu diễn trong những dịp lễ hội, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ ở địa phương. Âm thanh của loại nhạc cụ này mang âm hưởng của vùng cao bao la, hùng vĩ, nét giản dị, trong sáng và khoáng đạt ngấm sâu vào tâm hồn người Mông, thân quen gắn bó với họ từ lúc sinh ra đến lúc mất đi.

 


Kết luận


Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng về dân tộc và văn hóa. Các dân tộc thiểu số đã và đang có vai trò quan trọng trong lịch sử và phát triển của đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức trong việc bảo vệ và phát triển các dân tộc thiểu số.

Chính vì vậy, Nhà nước cần có những chính sách và hoạt động cụ thể để bảo vệ quyền lợi và giúp các dân tộc thiểu số có cơ hội phát triển kinh tế và đời sống tốt hơn. Đồng thời, mỗi người dân cũng có trách nhiệm và vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số, góp phần làm giàu và đem lại sự đa dạng cho đất nước.